|
Kỹ thuật nuôi chồn nhung đen Phần 2
Chồn nhung đen là loại động vật ăn cỏ, có lông màu
đen tuyền, được tuyển chọn và nhân giống từ nhiều loài chồn trong những năm gần
đây. Nghiên cứu thức ăn dùng trong chăn nuôi và kỹ thuật chế biến là thành quả
của hạng mục nghiên cứu trong những năm 1998-2001 của Viện nghiên cứu chăn
nuôi, Quảng Tây- được đăng ký số hiệu 20015607. Vào tháng 8/2001 hạng mục này
đã được các chuyên gia cấp tỉnh giám định và đánh giá; các chuyên gia đều thống
nhất: hạng mục nghiên cứu này dựa trên cơ sở nghiên cứu những ưu thế của tỉnh
Quảng Tây, đó là sự phong phú các đồng cỏ rộng lớn trên các sườn núi và các sản
phẩm nông nghiệp, từ đó đưa ra ý kiến phát triển loại động vật chuyên ăn cỏ,
tiết kiệm lương thực có ý nghĩa kinh tế; có thể nâng cao hiệu quả kinh tế
ngành nông nghiệp, tăng thu nhập cho người nông dân, đẩy nhanh việc xóa đói
giảm ngèo ở các vùng núi khó khăn.
Chồn nhung đen – lông đen tuyền, thể hình nhỏ (1~1,5 kg); thịt
nạc, thơm ngon; giá trị dinh dưỡng cao. Qua giám định thì hàm lượng chất
abumin có trong thịt chồn đạt tới 91,7% - cao gấp 5,5 lần thịt lợn, cao gấp
4,6 lần thịt bò, cao gấp 8,3 lần thịt dê, cao gấp 4,3 lần thịt gà, cao gấp
5,6 lần thịt vịt, và cao gấp 5,1 so với mực, lượng mỡ chỉ chiếm 14, 8 %; từ
đó có thể thấy Chồn nhung đen là loại động vật ăn cỏ cỡ nhỏ; thịt nạc, ít mỡ
và có nhiều abumin.
Thịt Chồn nhung đen còn chứa rất nhiều các chất axit amin mà
con người rất cần, ngoài ra còn chứa can xi, sắt, phốt pho, kẽm, sê len – các
chất càng ít thấy ở các loại động vật khác; trong đó sê len được gọi là “tố
chất vi lượng phòng chống ung thư hàng đầu”. Các thành phần dinh dưỡng trong
thịt Chồn nhung đen rất dễ dàng hấp thụ, dễ tiêu hóa, là loại thực phẩm bổ dưỡng
tự nhiên cho người già, trẻ nhỏ, người bệnh, sản phụ; cũng là thực phẩm dinh
dưỡng rất tốt cho những người có bệnh cao huyết áp mãn tính, ngoài ra thịt Chồn
nhung đen có thể chế biến thành thịt hộp, thịt khô, nước uống dinh dưỡng,
lông Chồn nhung đen là nguyên liệu y dược quan trọng, da và lông còn có thể
gia công chế biến thành các loại sản phẩm thuộc gia xuất khẩu mà trên thị trường
đang ưa chuộng.
Cùng với sự phát triển của kinh tế cả nước, đời sống của người
dân không ngừng được nâng cao, các loại thực phẩm dinh dưỡng đang càng ngày
càng được nhiều người ưa chuộng, điều này đã thúc đẩy đội ngũ chăn nuôi những
loài động vật có giá trị kinh tế ngày càng nhiều, quy mô chăn nuôi ngày càng
được mở rộng, ngành chăn nuôi Chồn nhung đen hiện đang được phát triển. Cũng
giống như việc chăn nuôi các loại động vật có giá trị kinh tế khác, tương lai
phát triển của ngành chăn nuôi Chồn nhung đen rất rộng mở, vừa có hiệu quả bảo
vệ động vật hoang dã, vừa có thể phát triển động vật ăn cỏ, tăng thu nhập và
đáp ứng nhu cầu của con người; ngoài ra còn có ý nghĩa lớn trong việc duy
trì, phát triển môi trường sinh thái. Để đáp ứng nhu cầu cấp thiết của người
chăn nuôi, chúng tôi đã tổng kết kinh nghiệm chế biến và chăn nuôi, tham khảo
các tư liệu có liên quan để biên tập ra cuốn sách này nhằm cống hiến cho độc
giả.
Cuốn sách giới thiệu giá trị kinh tế của việc nuôi dưỡng Chồn
nhung đen, đặc trưng hình dáng, tập tính sinh hoạt, tường thuật kỹ càng những
kỹ thuật mới trong phương pháp chăn nuôi Chồn nhung đen, nuôi chồn đẻ, chăm
sóc chồn con, phối hợp các loại thức ăn, phòng chống bệnh dịch và chế biến thịt
các loại. Cuốn sách này dựa trên kỹ thuật ứng dụng thực tiễn là chủ yếu, từ
ngữ thông dụng dễ hiểu, nội dung sau sắc, lời lẽ mộc mạc, dễ hiểu, rất thích
hợp cho người chăn nuôi tham khảo.
Do trình độ người biên tập có hạn, Chồn nhung đen lại là loại
động vật mới được phổ biến, còn có nhiều điều cần nghiên cứu và hoàn thiện
hơn nữa do đó những khuyết điểm và sai sót là không thể tránh khỏi, kính mong
độc giả thứ lỗi và phê bình đóng góp ý kiến để cuốn sách được hoàn thiện hơn.
I. Ý nghĩa kinh tế và khái quát quá trinh nuôi dưỡng Chồn
nhung đen.
1. Khái quát quá trình nuôi dưỡng:
Đây là loại động vật có lông đen tuyền, được chọn và gây giống
từ loại chồn hoang dã đã được thuần hóa nên thường gọi là Chồn nhung đen.
Loài động vật này bắt nguồn từ vùng Nam Mỹ, phân bố ở khắp vùng núi Andes. Đến
thế kỷ XVI được những người Tây Ban Nha đưa vào Châu Âu. Sau đó là du nhập
vào Châu Á.
Nước ta chủ trương làm thực nhiệm động vật, nghiên cứu ứng dụng
đối với ngành động vật vi sinh, sinh vật học, bệnh lý học, hóa học, đặc biệt
là chú trọng nghiên cứu ngành vi sinh vật. Loài chồn trong quá trình nghiên cứu
thực nghiệm chiếm một vị trí rất quan trọng. Do đó, loài chồn vốn có thể hình
nhỏ bé, màu lông tạp, đối với giá trị sử dụng làm thực phẩm có rất ít nghiên
cứu cũng như tài liệu khác, nhưng trong những năm gần đây, các nhà khoa học
trên cơ sở thực nhiệm động vật và đề cao giá trị kinh tế đã chọn và gây giống
thành công chủng loại chồn mới có màu lông đen tuyền, hình dáng khá to (1~1,5
kg), khả năng phòng chống bệnh cao, có khả năng ăn được nhiều loại thức ăn
khác nhau, thịt chồn nhung đen rất thơm ngon và nhìn đẹp mắt. Chăn nuôi Chồn
nhung đen được mở rộng rất nhanh ở các vùng chăn nuôi là: Quảng Tây, Triết
Giang, Thượng Hải, Quảng Đông, Phúc Kiến, Hồ Bắc, Hồ Nam, Vân Nam, thậm chí
có nơi đã xây dựng cơ sở chăn nuôi với quy mô lớn, hình thành một ngành công
nghiệp chăn nuôi Chồn nhung đen. Chăn nuôi Chồn nhung đen không chịu phụ thuộc
vào thời vụ, không ảnh hưởng đến sản xuất, công việc, có thể tận dụng nhiều
thời gian rảnh để chăn nuôi, đã lôi kéo được sự hưởng ứng của những người nông
dân muốn làm giàu. Năm 2002, chính quyền huyện Hoành đã đem chăn nuôi Chồn
nhung đen vào trong kết cấu các hạng mục điều chỉnh sản xuất, và đã thành lập
Hiệp hôi chăn nuôi Chồn nhung đen nhằm thúc đẩy quy mô chăn nuôi Chồn nhung
đen tại địa phương này. Hiện nay, các sản phẩm có lợi cho sức khỏe lấy Chồn
nhung đen làm nguyên liệu như: rượu thuốc, thịt khô, nước dinhh dưỡng, quần
áo thời trang làm từ lông chồn đã xuất hiện trên thị trường trong nước. Các hệ
thống nhà hàng nổi tiếng lấy thịt chồn nhung đen chế biến thành các món nổi
tiếng như “thịt chồn nướng ống tre”, “thịt chồn nướng xiên”, “thịt chồn hấp
sen” cùng các món nướng, hấp, canh, hầm cách thủy khác. Bởi vì hương vị phong
phú, đa dạng, thơm ngon, thực khách thưởng thức xong khen ngợi không hết lời
nên thịt Chồn nhung đen đã trở thành món ăn cao cấp trong các nhà hàng, khách
sạn tại các thành phố. Ở nước ta đang hình thành một trào lưu tiêu thụ thịt
chồn . Nhờ có nhiều thành phố lớn đang có nhu cầu lớn đối với các sản phẩm
làm từ Hoẵn đen, nghề nuôi và chế biến Chồn nhung đen đã trở thành một hạng mục
trọng điểm trong các quy hoạch mới của nhà nước Trung Quốc, triển vọng thị
trường đang hết sức tươi sáng.
2. Đặc điểm hình dáng:
Chồn nhung đen được tuyển chọn và phối giống từ nhiều loài chồn
để tạo thành 1 loại chồn ưu việt có màu lông đen tuyền, toàn thân đều màu
đen; đặc trưng của loài chồn nhung đen như sau: lông ngắn nhưng dày, mềm mại,
khỏe mạnh, toàn thân đều là màu đen bóng mượt, mắt đen, môi đen, tứ chi màu
đen, tai đen, mũi đen, không có đuôi. Bốn chân ngắn và nhỏ nhắn, chi trước có
4 ngón, chi sau có 3 ngón, chân sau dài bằng chân trước, thường dài khoảng
8-9 cm, các ngón chân đều có móng nhọn nhưng nhỏ và ngắn, thường thì móng chi
trước dài khoảng 1,6 cm, còn các móng ở chi sau dài khoảng 1,3 cm; vùng đầu
hình tròn, bên mép có râu xếp thành tầng, lớp; hàng trước ngắn, hàng sau dài,
râu dài từ 0,5-4 cm, tai nhỏ và ngắn, dài khoảng 1,5 cm, rộng khoảng 3 cm, ở
điểm giữa vành tai lại hướng vào trong nên tạo thành hình số 3. Núm vú ở con
cái ở hai bên dưới vùng bụng, cơ quan sinh dục của con đực và con cái đều ở gần
hậu môn. Chồn nhung đen trưởng thành, thân dài từ 30-40 cm, con đực dài hơn
con cái, lông dài từ 1,5 – 3 cm, chồn con 2 tháng tuổi nặng khoảng 500 gam,
sau đây liệt kê 4 loại chồn để so sánh sự khác biệt về màu lông cũng như hình
thể:
Giống Anh quốc: lông ngắn, mềm mại, thể trạng khỏe mạnh, màu
lông có lẫn các màu trắng, đen, vàng xám.
Giống Angola: sợi lông mảnh nhưng dài, bao phủ khắp mặt, đầu,
thân người; màu lông thì có rất nhiều, có cả màu vàng cam, màu xám đen.
Giống Tây Á: lông ngắn và thô, thể trạng yếu, màu nâu phân bố
khắp toàn thân. Loại chồn này rất mẫn cảm đối với các loại dịch bệnh.
Giống Pêru: lông ngắn nhưng dày, mềm mại như tơ, đặc biệt là ở
vùng bắp chân và ở chi trước, vùng đầu lông bao phủ tới tận mũi, màu lông có
rất nhiều: màu vàng cam, màu đen, màu xám, màu xanh da trời.
Sau nhiều lần làm thực nghiệm trên 4 loại chồn kể trên, lông hỗn
tạp các màu trắng, đen, xám và vàng, thể hình nhỏ, do đó khi lựa chọn loại chồn
để nuôi dưỡng nhất định phải chú ý.
3. Tập quán sinh hoạt:
Tính tình của loài Chồn nhung đen khá hiền lành, không cắn người
cũng không cào cấu, đối với con người rất hiền lành, không xảy ra đối kháng với
các loài động vật khác, trốn chạy là bản năng duy nhất, không giỏi leo trèo,
chạy nhảy, không cần làm lồng che phủ, xây chuồng trại cũng có thể nuôi dưỡng
chồn ; sợ ẩm ướt, thích môi trường sống khô ráo sạch sẽ; rất nhát gan, trong
không gian yên tĩnh, đột nhiên có âm thanh hoặc có loài chuột, gia cầm, gia súc,
hoặc người lạ đột nhiên xông vào sẽ làm chồn bị hoảng sợ, kích động (trừ người
cho ăn thường xuyên ra vào); khứu giác và thính giác của loài chồn rất phát
triển, đối với sự thay đổi của môi trường rất mẫn cảm, ví dụ như sự thay đổi
đột ngột của thời tiết; không khí ô nhiễm.
Chồn con sau khi dứt sữa và chồn trưởng thành đều rất thích
chung sống với nhau, thường đùa giỡn với nhau, rất hoạt bát, do đó, cần có
khoảng trống rộng để chồn chơi đùa, nếu không quá trình sinh trưởng phát dục
sẽ không tốt, mà tỷ lệ sinh sản lại thấp đi thấy rõ.
Chồn nhung đen khá mẫn cảm đối với những thay đổi đột ngột của
nhiệt độ, không thích ứng được với sự biến đổi lớn của thời tiết, ví dụ như:
trời mùa đông đột nhiên nóng lên, trời mùa hạ lại đột nhiên trở lạnh, nếu
không tăng cường chú ý thì sẽ dễ bị nhiễm bệnh, thích hợp với nhiệt độ khoảng
18~25 độ C.
Chồn nhung đen thường dùng tiếng kêu để biểu thị yêu cầu của
mình, ví dụ như sau khi chồn đã quen với người cho ăn thì từ xa, chỉ cần nghe
thấy tiếng bước chân, tiếng nói chuyện của người cho ăn liền phát ra tiếng
kêu “chi chi chi”; đặc biệt là khi chúng đói và đòi ăn thì tiếng kêu càng to
và nhiều hơn. Do bị đói nên khi người cho ăn mở cửa bước vào phòng, có con
còn chồm hai chân trước lên và đứng bằng hai chi sau, hai chi trước con chụm
vào nhau đưa lên cao để đòi ăn, giống như đang hành lễ với người cho ăn; sau
khi được cho ăn thì lập tức ngoan ngoãn ngừng kêu, yên lặng tranh ăn với
nhau, sau khi ăn no liền nô đùa với nhau.
Chồn đực vào thời kỳ phát dục, liền theo đuổi chồn cái và phát
ra tiếng kêu trầm “ tu lu tu lu”; sau khi giao phối lại phát ra tiếng kêu “
chiu chiu chiu” biểu thị sự hưng phấn và hài lòng. Trong mùa giao phối, giữa
các con đực với nhau xảy ra những va chạm, xung đột, con nào mạnh hơn sẽ nghiến
răng nghiến lợi và phát ra tiếng kêu “ cưa cưa”, thể hiện sự tức giận, đuổi kẻ
yếu hơn đi. Chồn nhung đen có tập tính đoàn kết với nhau chống lại kẻ thù,
khi nghe thấy một âm thanh lạ liền lập tức phát ra tiếng kêu cảnh báo “gu
lu”, đồng thời lập tức chạy trốn.
Chồn nhung đen là loại động vật ăn cỏ cỡ nhỏ, giác quan phát
triển, thành dạ dày rất mỏng, ruột thừa khá lớn, thích ăn lá mạ non có chứa
nhiều xơ, đặc biệt là ngọn cây non của các loại dây leo thân mềm. Chồn nhung
đen có khả năng tiêu hóa các loại chất xơ rất tốt, có thể tiêu hóa tới 38,2%
hàm lượng chất xơ.
Về các loại thức ăn của chồn nhung đen thì có các đặc trưng
như sau: khi chọn các thức ăn tinh cho chồn nhung đen ( ví dụ như: lúa mạch,
cám gạo) nên chọn các loại thức ăn phù hợp với khẩu vị của chồn, khiến cho chồn
ăn tốt hơn, 1 khi thay loại thức ăn, lập tức xảy ra hiện tượng kén ăn hoặc thậm
chí là ngừng ăn, nhưng sau khi thích ứng với loại thức ăn mới, chồn nhung đen
lại ăn nhiều trở lại.
4. Đặc trưng sinh trưởng và phát dục:
Thời gian chồn nhung đen từ lúc sinh cho tới lúc trưởng thành
là khoảng 60 ngày đối với con cái, và khoảng 70 ngày đối với con đực. Chồn đực
và chồn cái sau khi giao phối thành công, chồn cái mang thai khoảng 60~70
ngày, mỗi lần sinh từ 3~6 con, mỗi năm mang thai 4~5 lần, một con đực phối
cho 1~2 con cái là tốt nhất. Thời gian chồn cái sinh con xảy ra vào cả buổi
ngày lẫn buổi đêm, nhưng thường thấy rất nhiều vào đêm khuya, sau khi sinh chồn
mẹ liền ăn nhau thai của chồn con, liếm sạch lông cho chồn con, sau đó mới
cho chồn con bú. Chồn con sau khi sinh vài tiếng liền có thể ăn được thức ăn
ngoài, sau 40~60 ngày chồn con có thể trọng khoảng 500 gam. Tuổi thọ của chồn
nhung đen có thể kéo dài khoảng 6~7 năm, thường là 3~4 năm.
5. Sinh sản
Chồn nhung đen là loại động vật có vú, số lượng của bầy đàn phụ
thuộc vào tốc độ sinh sản cũng nhu tỷ lệ tử vong cao hay thấp, tỷ lệ chồn đực
chồn cái, số lần phát dục, mỗi lần mang thai sinh bao nhiêu chồn con, tỷ lệ
mang thai; điều kiện dinh dưỡng, nguồn thức ăn, ảnh hưởng của sự thay đổi khí
hậu, môi trường nuôi dưỡng. Khi nuôi dưỡng chồn nhung đen phải tạo điều kiện
môi trường sinh trưởng và phát dục thuận lợi, cung cấp thức ăn đầy đủ dinh dưỡng,
để có một đàn chồn lớn, sinh sôi mạnh:
a. Cách phân biệt chồn đực chồn cái:
Khi phân biệt chồn đực chồn cái, dùng tay trái tóm nhẹ vào gáy
của chồn nhung đen, dùng ngón tay cái ấn nhẹ vào vai trái, dùng 4 ngón còn lại
tóm chặt vai phải và vùng ngực của chồn nhung đen, nhẹ nhàng xách chồn nhung
đen lên (lúc này nên tránh đè vào vùng bụng), nâng sao cho vùng bụng hướng
lên trên, sau đó dùng ngón cái và ngón trỏ tay phải nhẹ nhàng ấn vào vùng bụng
có bộ phận sinh dục, quan sát hình dạng của nó xem có dương vật hay là âm hộ.
Có dương vật là con đực có âm hộ là con cái.
b. Chọn giống
Trong quá trình xây dựng một đàn chồn mới hoặc trong quá trình
người nuôi gây giống từ đàn chồn gốc, cần phải chú ý chọn con chồn khỏe mạnh,
có nhiều ưu thế làm con giống. Đặc điểm để chọn chồn giống là: thể hình đầy đặn,
béo tốt, khỏe mạnh, xương cốt chắc chắn, cứng cáp, toàn thân có lông một màu
đen tuyền và bóng mượt, lông dày đều và sạch sẽ, dinh dưỡng đầy đủ, cử động
linh lợi, hoạt bát, vùng đầu tròn đều, cổ ngực bụng săn chắc, tứ chi đầy đủ,
có lực và không bị biến dạng; mắt đen và sáng, không bị ghèn mắt, mũi ươn ướt,
không có hiện tượng rụng lông, hô hấp bình ổn, da mềm mại và có tính đàn hồi,
không bị bệnh ngoài da, không có bọ. Con đực khỏe mạnh, sức ăn khá tốt, khă
năng chống bệnh khá tốt, bộ phận sinh dục phát triển tốt, hai tinh hoàn vừa
to vừa cân đối với nhau,dương vật phát triển bình thường. khả năng phối giống
tốt, tính tình hiền lành, dễ thuần hóa. con cái có thể trạng khỏe mạnh, sức
ăn tốt, sức kháng bệnh cao, âm hộ phát triển bình thường và sạch sẽ, hai vú
phát triển tốt, đầu núm vú nhô hẳn ra ngoài, tỷ lệ mang thai và sinh con
thành công cao, phát triển bình thường, tính tình hiền lành, và có nhiều sữa.
c. Phối giống
Thời kỳ giao phối đầu tiên của chồn diễn ra khi chồn được
40~60 ngày tuổi đối với chồn cái và 70~71 ngày tuổi đối với chồn đực, thời
gian giao phối của chồn cái kéo dài 12~18 ngày. Để duy trì được ưu điểm của
chồn bố mẹ thì phải đợi đến khi cơ quan sinh dục của chồn nhung đen phát triển
hoàn thiện, sau khi hoàn toàn thành thục mới cho giao phối, nếu cho giao phối
quá sớm, chồn con trong quá trình sinh trưởng sẽ có những ảnh hưởng không tốt.
Thường thì chồn cái sau khi sinh được 2~3 tháng; chồn đực được 3~4 tháng thì
có thể cho giao phối, chồn con sinh ra sẽ khỏe mạnh.
Trong thời kỳ giao phối, chồn cái thường có nhu cầu giao phối
từ 1~18 tiếng, trung bình là 9 tiếng đồng hồ, thường là từ 5h chiều đến 5h
sáng hôm sau, giao phối vào buổi đêm hiệu quả rất tốt. Khi sắp hết thời gian
mà con cái có nhu cầu giao phối thì thường là con cái sẽ bài tiết trứng ra
ngoài cơ thể, ngoài ra chồn cái sau khi sinh được 3 tiếng đồng hồ sẽ động đực
và có thể bài tiết ra trứng, do đó, nếu chọn đúng thời gian này sẽ là tốt nhất,
có thể nâng cao tỷ lệ thụ thai.
Tiêu chí phối giống thành công: trong lúc phối giống, phải chú ý tình hình chồn
đực theo đuổi chồn cái như thế nào, chồn cái nếu tỏ ra thân mật có nghĩa là
chồn cái đồng ý giao phối, nhưng nếu chồn cái không muốn giao phối sẽ kháng cự
lại chồn đực đang đuổi theo mình, thậm chí là chống cự quyết liệt. Cách phân
biệt giao phối thành công: sau khi giao phối xem xét cửa âm đạo của chồn cái
có cái nắp như làm bằng keo dính hay không, đây là hỗn hợp giữa dịch của con
cái và tinh dịch của chồn đực, xem xét xem ở âm hộ con cái có nắp không có thể
đoán biết được giao phối có thành công hay không? Nhưng cái nắp ở cửa mình của
chồn cái này, có lúc do chồn cái vận động quá mạnh mà bị rơi mất. Lúc cần thiết
thì có thể kiểm tra trong âm đạo của chồn cái xem có tinh trùng hay không, từ
đó xác định được là giao phối đã thành công hay không? Trong thời gian phát dục
của chồn cái, sau khi đã tách riêng chồn đực, chồn cái phải nắm lấy thời điểm
con cái phát dục để có thể giao phối một lần là thành công.
Khi nuôi 1 đàn lớn phải áp dụng phương pháp cho 1~2 chồn đực
giao phối với 3~4 chồn cái, nhưng phải chú ý không để 2 chồn đựng cùng tranh
nhau giao phối với chồn cái, nếu không sẽ xảy ra xung đột dẫn đến gây thương
tích, ảnh hưởng không tốt đến việc phối giống. Nếu là phối giống để làm tăng
số lượng của đàn chồn có quy mô nhỏ thì có thể cho từng cặp chồn giao phối với
nhau, nếu như chồn cái vẫn đang trong thời kỳ nuôi con thì phải đợi đến sau
khi chồn con dứt sữa mới đem đi phối giống, hoặc ngay sau khi chồn mẹ vừa
sinh con xong khoảng nửa ngày thì đưa chồn đực vào chuồng, đợi đến khi chồn
cái động đực thì lập tức cho giao phối ngay, giao phối vào thời điểm này có tỷ
lệ thành công cao, có thể nâng cao tỷ lệ sinh sản. Trong quá trình nghiên cứu
thực nghiệm, để có thể tìm ra phương pháp phối giống tốt nhất, chúng tôi đã
cho tiến hành phối giống theo các phương pháp như sau:
(+) Phương pháp phối giống cận huyết
Phương pháp phối giống này là phương pháp sinh sản ra đời chồn
con cùng huyết thống với các đời chồn trước. Đợi khi chồn đực đã thành thục,
chia thành từng nhóm: 1 đực : 1 cái; 1đực : 2 cái; 1đực : 3 cái rồi cho giao
phối tự do với nhau, chồn con sinh ra cũng chia thành 3 nhóm tương ứng rồi
cho giao phối với nhau, sau mấy đời sinh sản như thế thì cho kết quả sinh sản
như sau: Nhóm gồm 1 đực : 1cái: với phương pháp phối giống này thì mỗi lần
mang thai sinh được trung bình 3,5 chồn con, chồn con sống đến sau khi dứt sữa
là 100%. Nhóm 1 đực : 2 cái và 1 đực : 3 cái cho kết quả là: mỗi lần mang
thai trung bình sinh được 3 chồn con. Nhưng sau nhiều tuần quan sát thì sẽ thấy
có xuất hiện hiện tượng không tốt như: dị dạng, thoái hóa giống, không thể
sinh sản ra loài chồn nhung đen có màu lông toàn thân đen tuyền nữa, hơn nữa
càng về sau thì dị biến càng nhiều. Do đó, trong quá trình nuôi dưỡng, phát
triển đàn chồn phải chú ý không cho giao phối cận huyết.
(+) Phương pháp phối giống không cận huyết
Phương pháp phối giống không cận huyết có nghĩa là cho phối giống
giữa chồn đực và chồn cái có họ xa, không có huyết thống gần gũi. Lựa chọn chồn
đực và chồn cái khỏe mạnh, thành thục, có tuổi tương đương, có đặc điểm sinh
trưởng và phát triển khỏe mạng và giống với đời bố mẹ, sau đó chia thành các
nhóm: 1 đực : 1 cái; 1đực : 2 cái; 1đực : 3 cái. Mỗi nhóm lại chia ra thàh
các lứa khác nhau để nuôi dưỡng, sau đó cho giao phối với nhau. Chồn con của
mỗi nhóm sau khi được nuôi dưỡng hoàn toàn trưởng thành và thành thục thì lại
cho giao phối với các chồn con của các nhóm khác bố mẹ, đời chồn con tiếp
theo này có thời gian mang thai khoảng 70 ngày, trung bình mỗi lần mang thai
sinh được 4 chồn con, tỷ lệ chồn con sống sót là 90~100%. Áp dụng phương pháp
giao phối không cận huyết thì đều không xuất hiện hiện tượng thoái hóa giống
và bị lai tạp các đặc tính không phải của loài chồn nhung đen, có thể duy trì
được giống chồn nhung đen có màu lông toàn thân đen tuyền.
(+) phương pháp giao phối không cận huyết cho cả một đàn
chồn lớn
Lựa chọn những chồn giống đã hoàn toàn thành thục, không cận
huyết, khỏe mạnh, tuổi tương đương, tình hình sinh trưởng và phát dục tương
đương với nhau, có tính kháng bệnh cao rồi chia thành các nhóm phối giống
khác nhau; mỗi nhóm có 2~4 chồn đực, 5~10 chồn cái, sau khi phân nhóm thì tiến
hành nuôi dưỡng như bình thường.
Ưu điểm của việc giao phối không cận huyết cho cả một đàn chồn
lớn là khi chồn mẹ động đực có thể tìm thấy ngay chồn đực và lập tức tiến
hành giao phối, tỷ lệ thụ thai do đó cũng cao; nuôi dưỡng và cho giao phối
theo đàn lớn có thể hình thành được những biến dị tốt, có thể nâng cao khả
năng sống sót của chồn con, tiết kiệm được diện tích nuôi, giảm bớt sức lao động,
dễ quản lý, sức ăn của chồn nhung đen cũng tốt, chồn cái có thể tự do lựa chọn
doẵng đực để giao phối nhưng không thể có lợi bằng phương pháp cho giao phối
theo từng cá thể một, bởi vì thường phát sinh việc chồn đực vì tranh giành được
giao phối với chồn cái mà xảy ra xung đột với nhau, việc cắn nhau giữa các chồn
đực sẽ làm cho chồn bị thụ thương, có trường hợp chồn đực vì tranh giành giao
phối với con cái nhiều lần mà làm tiêu hao thể lực rất lớn, ảnh hưởng tới sức
khỏe của chồn đực; ngoài ra khi nuôi theo đàn lớn thì có nhiều chồn con sinh
ra thường bị chết, tỷ lệ tử vong là khá cao. Nếu như sau khi chồn mẹ được thụ
thai thì tốt nhất là nên đưa chồn mẹ ra nuôi dưỡng riêng, đợi sau khi chồn
con dứt sữa thì mới đưa chồn mẹ quay lại đàn. Điều nàu có thể giảm bớt được tỷ
lệ bị tổn thương, nâng cao tỷ lệ sống sót của chồn con. Đối với phương pháp
giao phối này thì tỷ lệ 2 đực : 5 cái hoặc 3 đực: 8 cái trong mỗi nhóm là
thích hợp nhất. Tỷ lệ chồn con sinh ra trong mỗi lần mang thai là 3,5~4,2 chồn
con, tỷ lệ chồn con sống sót là 81~94,4%.
(+) Phương pháp phối giống giữa chồn đực và chồn cái
khác chuồng nuôi
Chồn đực và chồn cái bình thường không được cùng nuôi dưỡng
chung với nhau trong cùng 1 chuồng; đợi khi chồn con dứt sữa hoặc 12 tiếng
sau khi chồn mẹ sinh hạ chồn con thì đưa chồn đực ở đàn khác vào, sau khi
giao phối thành công thì lại đem chồn đực ra nuôi riêng; hoặc đợi khi chồn mẹ
mang thai khá lớn thì mới đưa chồn đực ra khỏi chuồng của chồn mẹ. Do thời
gian giao phối của chồn đực ngắn nên có thể duy trì được tinh lực sung mãn, tỷ
lệ thụ thai của chồn cái rất cao; ngoài ra, còn rất có lợi trong việc chồn mẹ
có thể bảo vệ được thai nhi; sinh ra được đời chồn con có khả năng chống bệnh
cao. Thực tiễn đã chứng minh, áp dụng phương pháp này có rất nhiều lợi ích:
trung bình mối lần mang thai sinh được 3,7~4,4 chồn con, tỷ lệ sống sót của
chồn con là 93~97,1 %, trong đó để 1 chồn đực giao phối với 2 chồn cái là tốt
nhất. Nếu chồn cái quá nhiều, chồn đực sẽ vì bị tiêu hao tinh tực nhiều mà
không thể giao phối, bỏ lỡ thời gian phát dục của chồn cái.
(+) Mang thai, sinh con và cho bú:
Trong thời kỳ phát dục của chồn nhung đen, trứng sau khi rụng
từ buồng trứng sẽ đi qua ống dẫn trứng xuống tới chỗ phình to của ống dẫn trứng
và ở đấy; sau khi giao phôi với chồn đực thì trứng sẽ được thụ tinh và sẽ
theo ống dẫn trứng tiếp tục đi tới tử cung và dính vào thành tử cung, bắt đầu
phân chia tế bào, hình thành bào thai. Máu của chồn mẹ sẽ cung cấp chất dinh
dưỡng cho chồn con thông qua nhau thai và nước ối, giúp thai nhi phát triển;
do đó, bụng của chồn mẹ cũng dần to lên và lộ hẳn ra ngoài. Cuối thời kỳ mang
thai, vú của chồn mẹ phát triển rất nhanh.
.Trước khi sinh khoảng 3~5 ngày, chồn mẹ sẽ dùng răng dứt bớt
lông quanh vú làm cho đầu vú lộ hẳn ra ngoài, đồng thời làm vệ sinh sạch sẽ
xung quanh vùng âm hộ. Trước khi sinh, chồn mẹ sẽ bỏ ăn 1~2 bữa, tỏ ra không
yên, có hiện tượng đau bụng, phát ra âm thanh”gu gu” nhỏ, co chân sau lên và
nằm nghiêng về một bên, sau đó sẽ có hiện tượng vỡ ối, chảy một ít máu đen.
Lúc sinh chồn nhung đen, đầu của chồn con sẽ ra trước, thân người sau đó cũng
nhanh chóng lộ ra ngoài; tiếp đó chồn mẹ sẽ cắn đứt cuống rốn và ăn nhau
thai, rồi không ngừng liếm sạch lông cho chồn con. Quá trình sinh chồn con
kéo dài từ 1~2 tiếng đồng hồ; chồn con lúc sinh ra nặng khoảng 50~100 gam; chồn
con sau khi sinh khoảng 2 tiếng đã có thể bò đi tìm bú sữa mẹ. Chồn mẹ cũng
chờ sẵn bên cạnh để cho chồn con bú. Chồn con được ba ngày tuổi đã có thể ăn
được một ít ngọn rau xanh non mềm, sau 5 ngày là có thể ăn được một ít thức
ăn tinh và bắt đầu chạy nhảy, hoạt bát, rất đáng yêu. Do chồn mẹ chỉ có hai đầu
vú, nếu sinh nhiều chồn con thì cũng chỉ đành cho chồn con thay nhau bú mẹ,
hoặc sẽ do người nuôi dưỡng cho uống sữa bò để có thể nâng cao tỷ lệ sống sót
của chồn con. Thường thì khi chồn con được 14 ngày tuổi là có thể bắt đầu cho
cai sữa, và tách ra ở riêng, nhằm giúp cho chồn mẹ nhanh chóng hồi phục sức
khỏe, chuẩn bị cho đợt sinh sản tiếp theo.
6. Kỹ thuật chăn nuôi:
6.1. Lựa chọn mặt bằng chăn nuôi:
Người chăn nuôi khi chăn nuôi chồn nhung đen thì đầu tiên phải
chọn được địa điểm chăn nuôi tốt. Nơi chăn nuôi phải đáp ứng được những yêu cầu
phù hợp với tập tính sinh hoạt của chồn nhung đen, những yêu cầu về môi trường,
số lượng đàn chồn định nuôi, cũng như đặc điểm sinh sản và những yếu tố về điều
kiện môi trường khí hậu, trình độ chăn nuôi khác biệt ở các vùng khác nhau;
tùy theo điều kiện mặt bằng và khả năng tài chính để xây dựng chuồng trại cho
phù hợp.
Chồn nhung đen có tính tình hiền lành, thích sống bầy đàn,
nhưng rất nhút nhát, không thích bị quấy rầy, kích động, khá mẫn cảm đối với
những âm thanh và kích thích từ bên ngoài. Những thau đổi đột ngột của môi
trường như: quá nóng hay quá lạnh đều ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng và
phát triển của chồn nhung đen. Do đó, nên chọn môi trường yên tĩnh, tránh xa
những nơi ồn ào như đường ray, nhà ga xe lửa; nơi nuôi dưỡng cần phải được
cung cấp đầy đủ nước sạch, mùa đông phải tránh được gió lùa, mùa hè thì lại
phải thoáng gió, đồng thời phải cách xa khu chăn nuôi gia cầm, gia súc để giảm
bớt sự ôm nhiễm và phòng tránh các bệnh truyền nhiễm, ở vùng lân cận phải có
nơi cung cấp đầy đủ nguồn thức ăn xanh cho chồn .
6.2. Yêu cầu cơ bản đối với chuồng trại chăn nuôi:
Chuồng trại chăn nuôi không cần phải quá đặc biệt đầu tư, các
phòng ở thông thường hoặc có thể dùng những phòng cũ, chuồng lợn cũ cải tạo lại
là có thể sử dụng được. Dựng lều ngoài trời cũng có thể tiến hành nuôi dưỡng,
yêu cầu không cao. Nhưng để đảm bảo cho chồn có thể thoải mái sinh sống,
nanhh cao hiệu quả và số lượng chăn nuôi thì vẫn phải đáp ứng một số các điều
kiện sau:
+ Phải thoáng khí
Kể cả chuồng trại mới xây hay là cải tạo lại thì chuồng nuôi tốt
nhất là ở hướng Bắc quay hướng cửa về hướng Nam, không hạn chế kích thước to
hay nhỏ. Trong chuồng nuôi thì tốt nhất là đông ấm, hè mát, không khí lưu thông,
thoáng mát và không bị ô nhiễm, hạn chế bị nhiễm bụi và ẩm ướt; ở cửa ra vào
và cửa sổ tốt nhất nên bố trí cao hơn so với tầm với của chồn nhung đen để
tránh gió lạnh trực tiếp thổi thẳng vào người chồn khiến chồn bị nhiễm lạnh.
+ Yêu cầu về nhiệt độ, độ ẩm và ánh sáng
Dựa trên tập tính sinh hoạt ưa ấm áp, thích khô ráo thì chuồng
trại nên được duy trì nhiệt độ và độ ẩm thích hợp, vào mùa hè nắng nóng nên
thiết kế sao cho đảm bảo nhiệt độ khống chế ở khoảng 25~30 độ, vào mùa đông lạnh
giá nên duy trì nhiệt độ ẩn định ở khoảng 20 độ, không được thấp dưới 10 độ,
và độ ẩm không khí là khoảng 50~60 %; môi trường ẩm ướt không chỉ ảnh hưởng đến
sinh sản và phát triển của chồn nhung đen mà còn dễ dẫn đến việc phát sinh bệnh
dịch; chuồng trại nên được bảo đảm ánh sáng phù hợp, duy trì môi trường ánh
sáng yếu cho chồn nhung đen, không được để ánh sáng chiếu trực tiếp vào người
chồn nhưng đồng thời lại không được để trong chuồng quá tối.
+ Phải yên tĩnh và chống được chuột
Chồn nhung đen rất nhát gan, nên khi xây dựng chuồng trại phải
lựa chọn nơi có môi trường xung quanh yên tĩnh. Cửa ra vào chuồng chồn phải
được che kín, nền chuồng nuôi tốt nhất là phải láng bằng xi măng; cửa sổ nên
lắp lưới sắt nhằm chống chuột và các loại thú khác vào gây hại, quấy nhiễu chồn
nhung đen, ngăn chặn việc giao phối nhầm với loài chuột.
6.3. Phương pháp chăn nuôi
Việc chăn nuôi chồn nhung đen khá đơn giản, dễ nuôi, có thể áp
dụng nhiều phương pháp chăn nuôi khác nhau; mỗi vùng có thể dựa theo tập tính
sinh hoạt của loài chồn nhung đen và những điều kện thức tế ở địa phương để
áp dụng những phương pháp thích hợp. Nên chọn những phương pháp chăn nuôi đơn
giản, dễ thực hiện để giảm giá thành. Những phương pháp chăn nuôi thường được
áp dụng có: nuôi nhốt trong lồng, nuôi nhốt trong phòng lớn, nuôi công nghiệp
quy mô lớn
+ Nuôi nhốt trong lồng
Phương pháp này nên áp dụng đối với nuôi chồn nhung đen với số
lượng ít; ưu điểm là dễ dàng quản lý, dễ cung cấp đầy đủ nguồn thức ăn, dễ khống
chế việc sinh sản của chồn, cho ăn cũng rất thuận tiện, dễ dàng làm vệ sinh
phân và nước tiểu cho chồn , duy trì được vệ sinh sạch sẽ và không khí lưu
thông thoáng mát, dễ dàng di chuyển, người lớn hay trẻ nhỏ đều có thể dễ dàng
thao tác. Lồng nuôi có thể làm từ gỗ, tre trúc hoặc là làm bằng sắt, chiều
dài 60 cm, chiều sộng 50 cm và chiều cao 40 cm, một lồng có thể nuôi 1~2 cặp
chồn trưởng thành, hoặc 8 đến 12 chồn con.
+ Nuôi nhốt trong phòng lớn
Phương pháp này phù hợp với việc nuôi 1 đàn lớn chồn nhung đen
trong điều kiện có diện tích chăn nuôi lớn và bằng phẳng. Ưu điểm của phương
pháp này là có thể sử dụng thiết bị cơ giới để vận chuyển thức ăn xanh, thức
ăn tinh, tiết kiệm được nhân công, tiết kiệm thời gian, nâng cao năng suất
lao đọng; mặt bằng rộng rãi, ánh sáng đầy đủ, không khí dễ dàng lưu thông,
thoáng mát, gió nam có thể thổi vào qua cửa chính và cửa sổ, nên không khí được
thay mới liên tục, dễ dàng dọn vệ sinh, thích hợp với việc dùng xe tải để vận
chuyển chồn nhung đen, có thể dùng ván gỗ để phân cách thành nhiều gian, ở giữa
chừa lối đi cho người chăn nuôi.
+ Chăn nuôi công nghiệp quy mô lớn và khép kín
Phương pháp này phù hợp với chăn nuôi công nghiệp quy mô lớn,
ưu điểm là quy mô lớn, thuận lợi cho việc tập trung quản lý, thao tác đơn giản,
có thể lợi dụng được không gian của phòng chăn nuôi, tiết kiệm diện tích, dễ
dàng lựa chọn con giống thuần chủng, đánh số. Trong chuồng nuôi có thể dùng tấm
gạch mỏng, tấm ván gỗ hoặc lưới sắt để ngăn thành 3~5 tầng, kích thước chiều
dài, chiều rộng và chiều cao là 80x60x50, mỗi tầng nuôi 1~2 cặp chồn bố mẹ, và
8~12 chồn con. Ở nền của mỗi tầng thì bố trí lưới sắt có lỗ rộng khoảng 1~2
cm, để cho phân dễ rơi xuống, nền của mỗi tầng cách lưới khoảng 5~10 cm và
hơi nghiêng, trên bề mặt phủ lớp ni lông hoặc tấm ván trơn nhẵn để phân dễ
dàng rơi thẳng xuống thùng đựng phân. Mỗi tầng như thế phải bố trí một cái cửa
nhỏ có kích thước rộng 35cm và cao 30 cm, để tiện đưa thức ăn và dễ dàng bắt
được chồn nhung đen.
Phương pháp này tuy rằng có thể lợi dụng triệt để không gian rộng
lớn, quy mô chăn nuôi cũng khá lớn nhưng mà không thuận tiện trong việc cho
ăn, bắt giữ chồn nhung đen và quan sát tình hình mang thai của chồn nhung
đen, hộ chăn nuôi có thể tùy theo điều kiện thực tế mà có thể có những cải tiến
mới nhằm nâng cao chất lượng và sản lượng chăn nuôi.
6.4. Yêu cầu dinh dưỡng và cho ăn:
Thức ăn sau khi mà chồn nhung đen đã ăn thì sẽ đi qua đường
tiêu hóa và được hấp thu 1 phần dinh dưỡng ở đây, đường tiêu hóa bao gồm: miệng,
thực quản, gan, tuyến tụy, đường ruột, ở đây sẽ tiết ra dịch tiêu hóa, thức
ăn sẽ được tiêu hóa 1 phần ở đây và được cugn cấp cho cơ thể. Chồn nhung đen
là loại động vật ăn cỏ, cơ hàm phát triển, thành dạ dày mỏng, ruột thừa lớn,
chiếm tới khoảng 1/3 khoang bụng, nên lượng ăn là rất lớn, nhu cầu chất xơ là
rất nhiều. Chồn nhung đen có khả năng tiêu hóa chất xơ khá tốt, tới 38,2%, đối
với chất xơ có trong cỏ thì tỷ lệ tiêu hóa là 33%, cho nên các loài cỏ thường
dùng cho chăn nuôi gia súc rất thích hợp làm thức ăn xanh đối với chồn nhung
đen. Ngoài ra thì chồn nhung đen cũng rất thích ăn củ cải, cà rốt, lá rau,
các loại cỏ, lá cây, ngọn cây ngô, lá cây mía, rơm rạ
(+) Nhu cầu dinh dưỡng:
Chồn nhung đen cần phải hấp thu 1 lượng thức ăn nhất định để
duy trì sự sinh tồn, sinh trưởng và sinh sản, và cũng chỉ có thể ăn những loại
thức ăn hợp khẩu vị mới có thể cung cấp được đầy đủ dinh dưỡng. Đối với điều
kiện của người chăn nuôi, tỷ lệ thức ăn tinh có thể chiếm 20~30% lượng thức
ăn của chồn nhung đen, còn lại là thức ăn xanh chiếm từ 70~80%. Để đảm bảo được
chất lượng thịt chồn thơm ngon thì sau đây giới thiệu những yêu cầu về dinh
dưỡng như sau, mọi người cùng tham khảo và có những điều chỉnh thích hợp:
Hàm lượng thành phần các chất dinh dưỡng cơ bản (%): 6.00 nước,
47.75 thực phẩm chiết xuất không có Nitơ; 0.24 sắt; 20.54 protein thô; 311.1
calo; 0.24 Magiê; chất béo: 6.34; 1.10 can xi; 0.53 Natri; 15.06 chất xơ;
0.69 phốt pho.
Hàm lượng các axit
amin có trong thức ăn (%): histidine thô: 1.31; Phenylalanine: 0.53; axit
amin tổng hợp: 0.49; threonine: 0.66; tyrosine: 0.55; lysine: 0.90;
high-acid: 1.28; aspartate: 1.64; tryptophan: 0.27; Systine: 3.05; glycine:
0.87; proline: 1.02; isoleucine: 0.74; cysteine: 0.27; methionin: 0,27;
valine: 0.83.
Trong thức ăn hàng ngày phải không được thiếu Vitamin D, mỗi
100 gam thể trọng cần tới 1,6 mg Vitamin D, thời gian mang thai cần tới 10
mg, việc thiếu Vitamin D làm cho xương sườn của chồn mềm đi, không cứng chắc,
các khớp xương sưng to, kém ăn, sinh trưởng và phát dục kém, khả năng chống bệnh
cũng giảm, hậu quả là làm cho chồn ngày càng yếu và thậm chí sẽ bị chết; nếu
như trong thời gian dài không kịp thời bổ sung chất Vitamin D sẽ phát hiện thấy
hiện tượng rụng lông rất nghiêm trọng. Ngoài ra còn cần phải bổ sung Vitamin
E. Trong quá trinh nuôi dưỡng cũng phải chú ý bổ sung các loại khoáng chất.
(+), Cung cấp nước
Nước là thành phần cần thiết cho cơ thể của chồn nhung đen. Bất
kể là hấp thụ, vận chuyển chất dinh dưỡng hay bài tiết, điều chỉnh nhiệt độ
thân thể cũng thể không tính đến vai trò của nước. Mất nước sẽ làm cho phổi bị
khô, ngoài ra còn bị táo bón không thể bài tiết phân ra ngoài cơ thể, làm cho
chồn mắc bệnh, làm cho chồn bị gầy mòn rồi tử vong. Chồn nhung đen chủ yếu
thông qua hàm lượng nước có trong thức ăn xanh để cung cấp lượng nước cần thiết
cho cơ thể, đặc biệt là vào lúc thời tiết hanh khô của mùa hè và mùa thu, cần
phải tăng lượng nước có trong nguồn thức ăn xanh của chồn để đảm bảo lượng nước
cung cấp đầy đủ, lúc thời tiết nóng bức cũng phải cung cấp nhiều nước, còn
vào thời tiết lạnh thì có thế cung cấp nước ít đi hoặc thậm chí là không cho
uống nước, cũng chú ý giảm bớt lượng nước trong nguồn thức ăn xanh, phải chú
ý là nước cung cấp cho chồn phải là nước sạch.
6.5. Các loại thức ăn
Chồn nhung đen là loài ăn tạp, có thể ăn được nhiều loại thức
ăn, thức ăn cho chồn trong tự nhiên có sẵn rất nhiều, nhưng chủ yếu là thực vật.
Những loài thực vật có hàm lượng nước ít.
+ Nguồn thức ăn xanh
Thường bao gồm các loại thức ăn xanh dành cho gia súc có sẵn
trong thiên nhiên hoặc là sản phậm thừa của trồng trọt.
Trong quá trình chăn nuôi thì thường dùng cỏ voi, cỏ voi lá ngắn…
Trong đó, nhiều nhất là cho ăn cỏ voi: chứa tới 9,98% chất abumin, 3,4% chất
béo thô; chất xơ và chứa tới 17 loại axit amin, so với lá ngô cao gấp 2,1 lần,
cao hơn lúa mạch tới 1,33 lần. Chồn nhung đen thích ăn các loại cỏ và phần ngọn
của các loại cây leo có hàm lượng chất xơ cao, ngoài ra còn rất thích ngọn
cây ngô, ngọn cây cao lương, lá mía và các loại lá cây khác; Chồn nhung đen
thích ăn các loại rau quả có: cà rốt, các loại khoai, vỏ dưa. Vỏ của những loại
thức ăn này có hàm lương abumin cao, ít chấp béo lại chứa nhiều nước và các
chất vitamin, có thể bổ sung lượng nước và vitamin cần thiết cho chồn nhung
đen, giúp chồn nhung đen phát triển tốt. Tỷ lệ các chất dinh dưỡng cần thiết
cho chồn nhung đen trong các loại thức ăn thể hiện như bảng sau:
|
Loại chất dinh dưỡng
|
Abumin
|
Chất béo
|
Chất xơ
|
Chất chiết xuất không có Nitơ
|
Kẽm
|
Phốt pho
|
|
Cỏ voi
|
13.34
|
3.23
|
28.51
|
39.17
|
0.35
|
0.12
|
|
Ngọn ngô
|
5.90
|
0.90
|
24.90
|
50.20
|
/
|
/
|
|
Khoai lang
|
2.30
|
0.10
|
0.10
|
18.90
|
0.30
|
0.30
|
|
Củ cà rốt
|
0.80
|
0.30
|
1.10
|
5.00
|
0.80
|
0.04
|
|
Ngọn cao lương
|
3.70
|
1.20
|
33.90
|
48.00
|
/
|
/
|
Cỏ khô là dùng để chỉ rơm rạ và các loại cỏ dại
|